Liệu Pháp Huyết Tương Giàu Tiểu Cầu Tự Thân – PRP

Huyết tương giàu tiểu cầu tự thân (PRP – Platelet Rich Plasma) là huyết tương có nồng độ tiểu cầu cao gấp nhiều lần so với huyết tương trong máu bình thường được tách chiết từ máu của chính bệnh nhân. Bình thường số lượng tiểu cầu trong máu khoảng từ 140.000 đến 400.000 tiểu cầu/ μl máu (trung bình 200.000), trong khi đó số lượng tiều cầu trong PRP cao hơn gấp nhiều lần, từ 2- 8 lần, so với mức trung bình [1, 2]. Sở dĩ cần một nồng độ lớn tiểu cầu trong liệu pháp PRP vì khi tiểu cầu được hoạt hóa sẽ dẫn đến quá trình ly giải các hạt α chứa bên trong tiểu cầu, từ đó giải phóng ra nhiều loại protein là các cytokine chống viêm và hàng chục các yếu tố tăng trưởng (growth factor) có vai trò quan trọng đối với quá trình làm lành vết thương. Các protein trên sẽ gắn vào các thụ thể (receptor) của các tế bào đích tương ứng như tế bào nguồn gốc trung mô, nguyên bào xương, nguyên bào sợi, tế bào biểu mô, tế bào nội mô…Sự gắn kết này sẽ hoạt hóa một loại protein dẫn truyền tín hiệu nội bào để truyền thông tin tới gen đặc hiệu tương ứng, kết quả là tạo nên sự tăng sinh tế bào, hình thành chất căn bản, các sản phẩm dạng xương, sụn, tổng hợp collagen… tham gia vào quá trình sửa chữa, tái tạo tổ chức tổn thương sụn, xương, phần mềm… Trong chuyên ngành cơ xương khớp, liệu pháp PRP tự thân được sử dụng để điều trị bệnh thoái hóa khớp gối, chấn thương thể thao, viêm gân và các điểm bám tận, kích thích sự lành vết thương phần mềm cũng như làm nhanh liền xương sau phẫu thuật.

Hình 1: Cấu trúc tiểu cầu (theo Neumüller [3])

Chức năng của tiểu cầu: tiểu cầu có chức năng chính là tham gia vào quá trình đông- cầm máu và khởi đầu quá trình làm lành vết thương.

Vai trò của tiểu cầu trong quá trình làm lành, sửa chữa vết thương

Khi tiểu cầu được hoạt hóa sẽ dẫn đến quá trình ly giải các hạt α của tiểu cầu, từ đó giải phóng ra nhiều loại protein có vai trò quan trọng đối với quá trình làm lành vết thương hay tổn thương [1, 2]. Một số protein quan trọng:

CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA PRP

  • Liệu pháp này ứng dụng điều trị một loạt các tổn thương bao gồm:
  • Viêm khớp, thoái hóa khớp
  • Đau hông, đầu gối và vai
  • Viêm gân mạn tính / viêm gân ở khuỷu tay, hông, hoặc đầu gối, bàn chân và mắt cá chân
  • Dây chằng cấp tính và chấn thương cơ ở vận động viên
  • Chấn thương thể thao phổ biến
  • Đau cổ và lưng
  • Đau thần kinh toạ
  • Gãy xương

Ngoài ra còn ứng dụng:

  • Thẩm mỹ: trẻ hóa da, làm mờ nếp nhăn,…
  • Trẻ hóa buồng trứng, làm dày niêm mạc âm đạo
  • Rụng tóc (điều trị chứng rụng tóc)
  • Điều trị vết thương mạn tính

 

Để lại một bình luận